Tìm hiểu về nghi thức cúng quá đường trong Phật Giáo
Nghi thức cúng quá đường là một trong những nghi thức quan trọng của Phật Giáo. Nghi thức này thường được dùng trong mùa an cư kiết hạ, tức là trong những ngày hè nắng nóng. Cùng chú đại bi tìm hiểu thêm về nghi thức này nhé!
Tìm hiểu về nghi thức cúng quá đường
Nghi thức ‘quá đường’ đóng góp một phần không nhỏ vào việc thành tựu giới hạnh của chư Tăng Ni trong ba tháng an cư, đồng thời tạo duyên lành cho đàn na tín thí đến chốn tòng lâm phát tâm cúng dường, nghe pháp, và tu tập phước trí.
Mỗi mùa hè đến, các chùa, tịnh xá, Phật học viện tổ chức ba tháng an cư kiết hạ, để chư Tăng Ni có nơi an trú ổn định, cùng nhau sách tấn tu tập, thúc liễm thân tâm, trau dồi giới đức.
Trong đó, nghi thức ‘quá đường’ cũng đóng góp một phần không nhỏ vào việc thành tựu giới hạnh của chư Tăng Ni trong ba tháng an cư, đồng thời tạo duyên lành cho đàn na tín thí đến chốn tòng lâm phát tâm cúng dường, nghe pháp, và tu tập phước trí.
‘Quá đường’ là một nghi thức dùng cơm của chư Tăng Ni trong ba tháng an cư kiết hạ. Từ “Quá đường” xuất phát từ Trung Quốc, để chỉ một trong những phương thức sinh hoạt của chư Tăng Ni trong các tu viện. Điều này có sự khác biệt với việc cầm bát đi khất thực của Tăng đoàn Ấn Độ.
Khi đức Thế Tôn còn tại thế, hàng năm chư Tăng Ni an cư vào mùa mưa, tất cả đều trở về sống chung trong các tinh xá (chùa). Trong thời gian này, chư Tăng Ni không đi khất thực, đã có thiện nam, tín nữ, đến tai trú xứ “để bát” và lo tứ sự cúng dường. Từ đó, ở Trung Quốc cũng như ở Việt Nam, trong chốn tòng lâm, y theo thanh quy thường ngày, lúc dùng cơm thì từ Phương trượng cho đến Sa di đều vào Trai đường dùng cơm, gọi là ăn quá đường.
Trước khi dùng cơm, tất cả cùng nghe chuông niệm Phật cúng Quá đường, sau đó yên tĩnh dùng cơm. Ăn cơm xong lại đồng thanh niệm Phật kết thúc buổi Quá đường và rời Trai đường.

Lợi ích của an cư kiết hạ và cúng quá đường trong an cư kiết hạ
Theo Cổ đại Hán ngữ từ điển, “quá” tức là “kinh qua, trải qua”, “Đường” là chỉ Trai đường còn gọi là Ngũ quán đường, là nơi dùng cơm của chư Tăng Ni, vị trưởng trong tự viện đông đúc, nên việc dùng phương thức Quá đường để ăn cơm tập thể sẽ có nhiều lợi ích.
Lý Xuân Trạch viết: “kinh quá Trai đường, như ong lấy mật”.
Ở góc độ nguyên nghĩa, theo đại từ điển Hán Việt, vào đời Đường, thí sinh sau khi đậu Tiến sĩ, đều do quan chủ khảo dẫn đến Đô đường ra mắt Tể tướng, gọi là Quá đường. Thời xưa, đương sự bị khởi tố được dẫn đến công đường chịu thẩm vấn cũng gọi là Quá đường.
Theo Từ điển Phật học Huệ Quang, Quá đường là nơi Tăng chúng đến thọ thực, hoặc Tăng chúng vào Trai đường thọ thực mà không khởi tâm tham trước, nên gọi là Quá đường.
Theo Trung Hoa Phật học từ điển, vào Tăng đường dùng cơm gọi là Quá đường.
Như vậy, Tăng chúng vào Trai đường dùng cơm trong tự viện là một thời khóa quan trọng, trong thời gian thọ thực thì cần phải không tham, không sân, lắng lòng thở nhẹ mà tiếp thọ cùng dường, tịch giả tu chơn. Như bốn câu kệ dưới đây:
“Từ bi hỷ xả biến pháp giới,
Tích phước kết duyên lợi nhân thiên,
Thiền tịnh giới hạnh bình đẳng nhẫn,
Tàm quí cảm ân đại nguyên tâm”.

Nghi thức cúng quá đường
Cổ đức dạy, theo chúng Quá đường, có tám điều lợi ich. Tám điều lợi là:
1. Không giãi đãi, chỉ là không phóng dật. Trước khi quá đường đánh bảng ba lần, gọi là “Tam thông” (thông tức là thông báo).
Thông thứ nhất để chuẩn bị Quá đường, thông thứ hai để mọi người mặc áo đắp y, đi vào Trai đường tuần tự mà ngồi. Thông thứ ba là yên tĩnh và nhẫn nại đợi Hòa thượng vào chứng trai. Làm như vậy là để mọi người không bị tính giải đãi làm ảnh hưởng.
2. Tiết kiệm công sức khi dọn quá đường. Ban hành đường và nhà bếp lúc dọn cơm và thức ăn lên tiện gọn, có thể dọn chén, đũa, cơm, rau một lần mà thôi, lúc thu dọn cũng làm được nhanh.
3. Bình đẳng vô ngã. Mọi người đều có cơm rau như nhau, Hòa thượng, Sa di đều không có sự cúng dường khác biệt, thể hiện ra tính bình đẳng trong Phật giáo.
4. Không thiên vị về đồ ăn của chúng. Mọi người thọ nhận vật phẩm cúng dường đều bình đẳng, được phân phối bằng nhau, dinh dưỡng cũng được quân bình. Đối với thân thể cũng có điều lợi. Sự phân phối binh đẳng cũng góp phần thay đổi thói quen không tốt của các thành viên trong tăng chúng.

5. Đồng cam cộng khổ. Mọi người không nên có sự chọn lựa, đối với bất cứ món ẩm thực nào lúc ăn cũng tưởng như nếm vị cam lộ, không có tâm phân biệt, mà nên sanh tâm vô cùng hoan hỉ.
6. Ý niệm tồn tại. Đình chỉ các ngoại duyên vọng động, quán tưởng sự bố thí của đàn na tín thí là khó tiêu, ăn cơm như dùng thuốc mà thôi, khi vọng niệm vừa khởi lên liền vận dụng đến ý thức có khởi tức có diệt, nên gọi là ý niệm tồn tại.
7. Như pháp như lý. Từ đời Đường về sau, người của Tự viện ngày càng nhiều, nhất là lúc truyền giới, thường có trên ngàn người. Nếu như không lập ra quy tắc Quá đường, tất sẽ hỗn loạn. Nghi thức Quá đường sẽ tạo nên trật tự, có trật tự thì không những khiến người lòng an đạo ổn mà còn thể hiện được tinh thần nghiêm tịnh của Phật giáo.
8. Khởi chỉ oai nghi. Là đệ tử Phật, phàm làm việc gi cũng cần thể hiện sự giác tỉnh. Quá đường không ngoài lệ đó, nó phải thể hiện được oai nghi tế hạnh, khiến kẻ thấy người nghe đều sanh tâm hoan hỉ mà khởi niệm cung kính. Như thế chính là hiện thân thuyết pháp.
Từ khi Phật giáo Trung Quốc truyền vào Việt Nam, ngoài kinh điển chữ Hán ra, nền văn hóa Phật giáo của người Trung Quốc cũng được du nhập theo, trong đó có các nghi thức của truyền thống An cư kiết hạ. Ở Việt Nam, nghi thức Quá đường trong ba tháng an cư là không thể thiếu.
Dù cho chư Tăng Ni có Phật sự đa đoan đến mấy đi nữa thì việc Quá đường tất không thể bỏ (trừ khi được Tăng sai) và coi như đó là một phần trách nhiệm cần thiết của bản thân.
Cho đến ngày nay, nghi thức Quá đường ở Việt Nam vẫn được duy trì nghiêm túc, điều đó chứng minh một cách hùng hồn về sự quan trọng của lễ nghi trong Phật giáo.
Thông qua việc tra cứu và khảo sát về vấn đề trên, chúng tôi cho rằng Phật giáo Việt Nam đã, đang và sẽ gìn giữ mãi nét đẹp mang đậm nét văn hóa Phật giáo trong sự trong sáng của bản sắc dân tộc.

Nghi lễ cúng quá dường chuẩn theo quy trình chính xác nhất
1- Cúng dường
Cúng dường Thanh tịnh Pháp Thân Tì Lô Gía Na Phật.
Viên Mãn Báo Thân Lô Xá Na Phật.
Thiên Bá Ức Hóa Thân Thích Ca Mâu Ni Phật.
Ðương Lai Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phaät.
Cực Lạc Thế Giới A Di Ðà Phật.
Thập Phương Tam Thế Nhất Thiết Chư Phật.
Ðại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát,
Ðại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát,
Ðại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát,
Chư Tôn Bồ Tát Ma Ha Tát.
Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật.
Tam đức lục vị, cúng Phật cập Tăng, pháp giới hữu tình, phổ đồng cúng dường, nhược phạn thực thời, đương nguyện chúng sanh, Thiền duyệt vi thực, pháp hỷ sung mãn. (Cúng dường rồi để bát xuống)
2- Xuất Sanh
Giới sư để 1 cái chung nhỏ trong lòng bàn tay trái, tay mặt gắp 7 hạt cơm để vào chung, quyết ấn cam lồ mặc niệm:Pháp lực bất tư nghì. Từ bi vô chướng ngại. Thất liệp biến thập phương. Phổ thí châu sa giới.Án độ lợi ích tá ha. (3 lần)
Ðồng tụng: Nẳng mồ tát phạ đát tha, nga đa phạ lồ chỉ đế. Án tam bạt ra tam bạt ra hồng (3 lần)
Nẳng mồ tô rô bà da, đát tha nga đa da, đát điệt tha. Án tô rô, tô rô, bát ra tô rô, bát ra tô rô tà bà ha. (3 lần).
Án Nga nga nẵng Tam Bà Phạ Phiệt Nhựt Ra Hồng (3 lần)
Chủ lễ thầm nguyện:
Nhữ đẳng quỉ thần chúng.
Ngã kim thí nhữ cúng.
Thử thực biến thập phương.
Nhất thiết quỉ thần cộng.
Án mục lăng tá bà ha. (3 lần)
3- Tống thực: (Thị giả):
Ðại Bàng Kim Xí Ðiểu, Khoáng dạ quỷ thần chúng, La sát quỷ tử mẫu, Cam lồ tất sung mãn. Án mục đế tóa ha. (7 lần)
(dịch nghĩa: Chim đại bằng cánh vàng, chúng quỉ thần đồng rộng, mẹ của quỉ la sát, cam lộ no đủ cả.)
4- Xướng Tăng Bạt (Thầy chủ lễ)
Phật chế Tỷ kheo, thực tồn ngũ quán, tán tâm tạp thoại, tín thí nan tiêu, đại chúng, văn khánh thanh, các chánh niệm. Nam Mô A Di Ðà Phật.
(dịch nghĩa: Phật dạy đại chúng, ăn xét năm điều, nghĩ sai nói chuyện, tín thí khó tiêu, đại chúng nghe tiếng khánh, cùng chánh niệm).
5- Hai tay bưng bát cơm đưa lên trán và thầm đọc
Chấp trì Ứng khí, đương nguyện chúng sanh, thành tựu pháp khí, thọ thiên nhân cúng. Án chỉ rị chỉ rị phạ nhật ra hồng phấn tra (3 lần).
(dịch nghĩa: Tay bưng bát cơm, nguyện cho chúng sanh, Pháp thí thành tựu, nhận trời người cúng dường)

6- Gắp ba miếng cơm rồi thầm nguyện:
1. Nguyện đoạn nhất thiết ác.
2. Nguyện tu nhất thiết thiện.
3. Thệ độ nhất thiết chúng sanh.
(1. Nguyện dứt tất cả điều ác,
2. Nguyện làm tất cả điều lành,
3. Nguyện độ tất cả chúng sanh).
7- Bắt đầu ăn và thầm quán tưởng “Năm pháp quán”:
Thứ nhứt: Con xin biết ơn người đã phát tâm cuùng dường, sửa soạn những thức ăn này.
Thứ hai: Con nguyện nổ lực tu học, trao dồi giới hạnh để xứng đáng thọ dụng những thức ăn này.
Thứ ba: Trong khi ăn, con nguyện từ bỏ lòng tham dục, tham ăn.
Thứ tư: Con quán chiếu những thức ăn này như những vị thuốc, để cho thân thể con khỏi bệnh tật.
Thứ năm: Con nuôi dưỡng chánh niệm, chỉ vì để thành tựu đạo nghiệp giải thoát giác ngộ con thọ dụng những thức ăn này.
8- Ăn cơm xong, trước khi uống nước, xin thầm đọc
Phật quán nhất bát thủy, bát vạn tứ thiên trùng, nhược bất trì thử chú, như thực chúng sanh nhục. Án phạ tất ba ra ma ni sa ha (3 lần).
(nghĩa: Phật nhìn một bát nước, tám vạn tư vi sinh, nếu không trì chú này, như ăn thịt chúng sanh.
9- Tụng bài Kiết Trai
Nam mô tát đa nẫm, tam miệu tam bồ đề, cu chi nẫm, đát điệt tha. Án chiếc lệ chủ lệ chuẩn đề ta bà ha (7 lần)
Sở vị bố thí giả, Tất hoạch kỳ lợi ích, Nhược vị nhạo bố thí, Hậu tất đắc an lạc. Phạn thực dĩ ngật, Ưương nguyện chúng sanh, Sở tác giai biện, Cụ chư Phật Pháp.
10- Phục nguyện (Thầy chủ lễ xướng)
Thân Phi nhất lũ, thường tư chức nữ chi lao, nhựt thực tam xan, mỗi niệm nông phu chi khổ. Phổ Nguyện đàn na tín thí, tăng ích phước điền, pháp giới chúng sanh, đồng thành Phật Ðạo. Ðồng niệm: Ðại chúng đồng niệm: Nam mô A-Di-Ðà Phật, nghe khánh cùng đứng dậy chắp tay xá và lui ra.
11- Niệm Phật Kinh Hành
A-Di-Ðà Phật thân kim sắc, Tướng hảo quang-minh vô đẳng-luân, Bạch hào uyển-chuyển ngũ tu-di, Cám mục trừng thanh tứ đại hải. Quang trung hóa Phật vô số ức, Hóa Bồ-tát chúng diệc vô-biên, Tứ thập bát nguyện độ chúng-sanh, Cửu phẩm hàm linh đăng bỉ ngạn.
Nam-mô Tây-phương Cực-lạc thế-giới đại-từ đại-bi A-Di-Ðà Phật.
Nam-mô A-Di-Ðà Phật. (108 lần)
Nam-mô Ðại-bi Quán-thế-âm Bồ-tát. (3 lần)
Nam-mô Ðại-Thế-Chí Bồ-tát. (3 lần)
Nam-mô Ðại-Tạng Vương Bồ-tát. (3 lần)
Nam-mô Thanh-tịnh Ðại-Hải chúng Bồ-tát. (3 lần)
Hồi Hướng:
Nguyện đem công đức này,
hướng về khắp tất cả,
đệ tử và chúng sanh,
đều trọn thành Phật Ðạo.
Nam Mô A Di Ðà Phật